Chào mừng các bạn đến với Trung tâm UNESCO Khoa học Nhân văn & Cộng đồng (UNESCOM) – Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam - Liên hiệp các Hội UNESCO thế giới
THỨ BẢY, 18/11/2017 | 9:23 AM

Chi tiết tin

"BÁU VẬT SỐNG NHÂN VĂN" BÀN THỊ VINH

Cách đây 2 năm, tôi được dự buổi công nhận, trao tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian (NNDG) của tỉnh. Hôm đó, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam có ví 9 người được phong NNDG là “báu vật nhân văn sống”. Vừa qua, tôi có dịp gặp lại và trò chuyện với một trong 9 “báu vật nhân văn sống” ấy, đó là nghệ nhân may thêu trang phục truyền thống và hát dân ca Dao Bàn Thị Vinh, ở thôn 4, xã Quảng La, huyện Hoành Bồ.

Đã bước sang tuổi 74, mái tóc đã điểm bạc, nhưng nghệ nhân Bàn Thị Vinh trông vẫn khoẻ mạnh, nhanh nhẹn. Ông Đặng Văn Tiến, Trưởng thôn 4 nói với tôi: “Bà Vinh là người có vốn sống phong phú. Bà thuộc rất nhiều chuyện kể, bài hát của dân tộc Dao Thanh Y. Bà còn giỏi trong trang điểm, trang trí cho các cô dâu, chú rể người Dao trong ngày cưới. Đặc biệt, bà thêu các trang phục truyền thống rất đẹp. Nhiều người trong thôn tôi gọi bà là người có “đôi bàn tay vàng”.

Nghệ nhân may thêu trang phục truyền thống và hát dân ca Dao Bàn Thị Vinh.

Trò chuyện với bà, tôi được biết từ khi còn nhỏ, bà đã học thêu thùa. Bà bảo: “Con gái Dao mà không biết thêu thùa thì khó lấy chồng. Với lại, mỗi cô gái phải tự thêu được một bộ quần áo, khăn mũ đẹp để mặc đi hội, đi chơi, để còn lấy chồng chứ…”. Chăm chỉ học, cộng với niềm say mê, có năng khiếu, nên bà Vinh thêu rất đẹp. Bà mang ra cho tôi xem những sản phẩm bà đã thêu như áo, yếm, khăn, thắt lưng của người Dao Thanh Y. Nếu không “mắt nhìn, tay sờ” vào các sản phẩm, tôi sẽ nghĩ hoa văn thêu trên áo, khăn đều do máy móc làm ra. Từng đường kim, mũi chỉ đều tăm tắp, rất thẳng, sắc nét. Hoa văn, hoạ tiết sặc sỡ nhưng rất hài hoà, cân đối. Đặc biệt, có những phần thêu khéo léo đến mức hai mặt vải thêu giống hệt nhau, không có mặt trái, mặt phải. Nghệ nhân Bàn Thị Vinh giải thích: “Người Dao coi việc thêu thùa là một trong những công việc riêng của phụ nữ, thế nên ai cũng phải học. Người Dao không có mẫu sẵn trên vải mà thêu hoàn toàn dựa vào trí nhớ. Tôi thêu được thế này cũng là nhờ hồi nhỏ học từ bà, từ mẹ chứ không hề có sách vở nào hướng dẫn”. Bà còn nói thêm về ý nghĩa, câu chuyện liên quan đến những hình thù, hoạ tiết thêu trên từng sản phẩm; cách phân biệt những hoạ tiết, cách thêu khác nhau trên áo nam, áo nữ hoặc sự khác nhau giữa những đường thêu ở cổ áo với tay áo, túi áo, giữa yếm với khăn đội đầu, thắt lưng. Nhìn bà say sưa giảng giải, tôi càng nhận thấy bà không chỉ giỏi trong thêu thùa mà còn có niềm say mê và mong muốn giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc mình.

Bên cạnh thêu thùa, nghệ nhân Bàn Thị Vinh còn biết trang điểm, trang trí cho cô dâu, chú rể mặc các trang phục truyền thống trong các đám cưới của người Dao. Bà thuộc và hát được rất nhiều bài hát giao duyên trong đám cưới, trong lễ cấp sắc... Khi tôi ngỏ ý được nghe một bài hát giao duyên, bà đã hát ngay mấy câu tiếng Dao thường hát trong đám cưới, đại ý “Anh ở đâu đến đây? Qua bao nhiêu suối, bao nhiêu khe? Anh đi bộ hay đi thuyền? Đi bộ mất bao nhiêu đôi giầy bị hỏng? Đi thuyền mất bao nhiêu cây sào bị gãy?”. Tuy không hiểu tiếng Dao, nhưng tôi cảm nhận được giọng hát của bà còn trong, còn khoẻ, ánh mắt bà lấp lánh niềm say mê, hứng khởi. Ngồi bên tôi, ông Đặng Văn Tiến, Trưởng thôn 4 thì thầm: “Bà Vinh là một trong những giọng ca chính trong các đám cưới, các lễ hội của thôn, xã. Nhiều năm nay, bà còn được huyện, tỉnh mời đi biểu diễn nữa”.

Là một trong số ít người giỏi thêu thùa, ca hát, nghệ nhân Bàn Thị Vinh nhiều lần được mời đi giảng dạy, truyền nghề cho thế hệ trẻ. Bà còn được mời thêu hàng chục bộ quần áo cô dâu để sử dụng, lưu giữ tại Khu bảo tồn Bản văn hoá người Dao Thanh Y xã Bằng Cả. Mong muốn giữ gìn, phát huy được bản sắc dân tộc mình, bà không tiếc thời gian, công sức để dạy miễn phí cho phụ nữ trong và ngoài xã. Mỗi lần được đi biểu diễn ở tỉnh ngoài, bà tranh thủ thời gian đi mua vải, mua chỉ, kim và các phụ liệu khác như vòng, bạc, hạt cườm v.v.. phát cho những người đến học thêu. Hiện tuy tuổi đã cao, mắt đã mờ, nhưng cứ rảnh rỗi là bà lại mang khăn, áo ra thêu. Các bà, các chị trong thôn đến hỏi, bà cũng bỏ việc nhà để ngồi dạy. Nhờ những cố gắng không mệt mỏi ấy, cùng với danh hiệu Nghệ nhân dân gian, bà còn được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tặng Kỉ niệm chương “Vì sự nghiệp văn nghệ dân gian” năm 2011.