Chào mừng các bạn đến với Trung tâm UNESCO Khoa học Nhân văn & Cộng đồng (UNESCOM) – Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam - Liên hiệp các Hội UNESCO thế giới
THỨ BẢY, 18/11/2017 | 9:51 AM

Chi tiết tin

Hiệu quả tối ưu của Công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường hoàn toàn mới tại Việt Nam

Trong một thời gian dài bền bỉ nghiên cứu, thực nghiệm, chứng minh về xử lý ô nhiễm môi trường theo phương pháp hoàn mới, nhóm nghiên cứu đã thu về được những kết quả tối ưu, cụ thể đó là: Biến các hoá chất có trong chất thải, chất độc thành muối vô cơ kết tủa lành tính. Kết quả thực nghiệm đã chứng minh rằng: Con người đủ khả năng chống lại sự nhiễm độc trái đất và bầu khí quyển.

Con người đủ khả năng chống lại sự nhiễm độc của trái đất và bầu khí quyển

Vật chất cũng như hóa chất, nó không thể mất đi, độc hay không và ít hay nhiều là do trạng thái tồn tại của nó. Vì vậy xử lý ô nhiễm môi trường mà không thu hồi được các chất tồn tại bền vững trong tự nhiên như muối vô cơ kết tủa thì chỉ có ý nghĩa cục bộ tại khu vực đó hay quốc gia đó chứ không có ý nghĩa chung cho trái đất và bầu khí quyển, vì hóa chất còn tồn tại ở đâu đó gây độc hại. Công nghệ sử dụng hóa chất không nhất thiết phải sản xuất ra hóa chất trước và sử dụng sau. Một số ngành có thể vừa sản xuất vừa sử dụng hóa chất giống như sử dụng trực tiếp ion của nó, rất mạnh, rất rẻ và hiệu quả. Điều này cũng đồng nghĩa với việc sản xuấn hóa chất không nhất thiết phải theo cách truyền thống, không nhất thiết phải chứa đựng hóa chất vào trong dụng cụ chứa, ion âm và dương có thể chứa vào nhau ở dạng muối thiếu oxy trong điều kiện và thời gian thích hợp.

Nhóm nghiên cứu gồm: TS. Lê Văn Tuấn – Tổng đại diện Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam tại Tp Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, Ks. Vũ Đức Hoà – Giám đốc và Cn. Vũ Đức Huyền – Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn Môi trường sống, trực thuộc Văn phòng Đại diện Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam tại Tp Hồ Chí Minh. Trong một thời gian dài bền bỉ nghiên cứu, thực nghiệm, chứng minh về xử lý ô nhiễm môi trường theo phương pháp hoàn mới, nhóm nghiên cứu đã thu về được những kết quả tối ưu, cụ thể đó là: Biến các hoá chất có trong chất thải, chất độc thành muối vô cơ kết tủa lành tính. Kết quả thực nghiệm đã chứng minh rằng: Con người đủ khả năng chống lại sự nhiễm độc Trái đất và bầu khí quyển.

 Trong suốt thời gian nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã thực nghiệm và chế tạo thành công hệ thống thiết bị có khả năng vừa hút khói lò đốt, vừa tạo ra phản ứng hóa học trong môi trường chân không thiếu O2, để tạo ra muối vô cơ kết tủa rất nhanh nên có khả năng xử lý triệt để các chất độc hại và cực độc hại có trong chất thải rắn và lỏng. Thiết bị có chi phí đầu tư và vận hành thấp, có thể ứng dụng tại các địa phương nghèo, nước nghèo nên có ý nghĩa bảo vệ trái đất và bầu khí quyển. Các nhà khoa học nghe nhóm nghiên cứu trình bày sơ bộ về lý thuyết và chứng kiến thiết bị thực nghiệm đều bày tỏ sự khả quan. Trong đó các nhà khoa học trẻ tin rằng trái đất và bầu khí quyển sẽ được bảo vệ nếu có thêm hướng nghiên cứu này. Dựa trên kết quả thực nghiệm đã đạt được, nhóm nghiên cứu tuyệt đối tin tưởng nên quyết tâm đầu tư, chế tạo, lắp dựng hệ thống thiệt bị để thực nghiệm.

         Kết quả thử nghiệm thành công tuyệt vời, phù hợp với nguyên lý khoa học

 Ban đầu, nhóm nghiên cứu chế tạo lò đốt công suất 20kg/h, xử lý khói một cấp để chứng minh khả năng đốt nhiều chất thải chứa trong túi chứa và khả năng tạo ra phản ứng hóa học thu được muối vô cơ kết tủa lành tính (đúng thiết kế là xử lý khói 2 cấp) phải đốt thay thế các chất cực độc và rác thải y tế bằng đốt hỗn hợp các chất: Cao su, nhựa PVC, nhựa PE, dầu (nhớt) thải xe, cặn sơn, bột lót sơn, keo pha sơn, chất tẩy rửa ngành in, sơn, đầu, vẩy, ruột cá tươi cùng lúc và để nguyên trong các túi chứa với kết quả tuyệt vời.

      1- Đã khử được hoàn toàn kim loại nặng, axit thoát ra không khí như Cd, HCl, Pb, Hg

      2- Các chất NOx, SO2, CO và bụi vẫn còn nhưng ít, có thể khử được bằng xử lý cấp 2

      3- Lò đốt không ống khói nên không có khói mà chỉ có khí thải sau phản ứng, ống khí thải bằng nhựa PVC Ф75mm nên lưu lượng nhỏ và nhiệt độ thấp (khoảng 43÷450C) rất dễ khử hoàn toàn hoặc theo ý muốn.

 4- Nước để tạo phản ứng hóa học lắng trong rất nhanh, phần nước trong tuần hoàn trở lại, bùn thải gồm các muối vô cơ kết tủa. Bùn thải có tỷ lệ CaCO3 là 85,8% (quy về chất  khô) lành tính nên tưới cây cỏ không độc hại.

 5- Tro của lò đốt là tro của lò đốt 2 cấp thông thường, nên giải quyết cũng thông thường, đơn giản

 6- Thiết bị có khả năng khử mùi, màu và vi khuẩn, cùng với khả năng đốt chất thải chứa trong các túi đựng, rất phù hợp với rác y tế vì không cần phân loại gây lây nhiễm dịch bệnh, khắc phục gian lận khi phân loại.

  7 - Thiết bị chỉ có thể hút vào, khí đốt không khuếch tán ra môi trường rất phù hợp cho tiêu hủy các chất cực độc như: Chất độc hóa học, thuốc diệt côn trùng, dầu biến thế có PCB.          8-  Thiết bị có khả năng tiêu hủy chất thải rắn kể trên, cũng có thể xử lý chất thải lỏng nguy hại như: Nước rỉ rác thải sinh hoạt, nước thải dệt nhuộm, nước thải thuộc da (kể cả nhiễm mặn). Nếu xử lý đồng thời các chất thải rắn và lỏng thì càng nâng cao hiệu quả kinh tế vì cùng tạo ra phản ứng hóa học thu được muối vô cơ kết tủa.

  9 -  Thiết bị khai thác được đặc tính là: Hóa chất có hoạt tính cực mạnh khi nó đang sinh ra, tạo ra phản ứng trong môi trường chân không thiếu O2 nên tương đương với xử dụng hoá chất ở trang thái ion. Nhóm nghiên cứu đã thực nghiệm sử dụng trực tiếp các ion Na+, Cl-, Ca+ + và SO2- - từ muối, vôi và lưu huỳnh, có kết quả làm mọi người ngạc nhiên, báo hiệu một số ngành sử dụng hóa chất có thể sử dụng trực tiếp từ nguyên liệu sinh ra hóa chất đó, rất hiệu quả và an toàn môi trường.

      Từ những kết quả tuyệt vời đã thu được trong quá trình thực nghiệm, nhóm nghiên cứu   đã tìm đủ vốn chế tạo hệ thống thiết bị có công suất 100kg/h có thể xử lý cho vài bệnh viện lớn hoặc các bệnh viện của tỉnh nhỏ. Thiết bị cũng có thể xử lý chất thải nguy hại khác, chất độc và cực độc ngay cả khi nó ngậm nước và các chất có độc ở dạng dầu nhớt. Thiết bị  còn có thể xử lý được nước thải nguy hại như nước rỉ rác, dệt nhuộm, thuộc da…với công suất khoảng 10÷15 m3/h. Hiện nay nhóm nghiên cứu đang tìm vốn cho phần xây lắp, làm các thủ tục hợp pháp và cho thử nghiệm...phần vốn này phụ thuộc vào điều kiện cụ thể như được xử lý chất thải gì? Ở đâu? Ở đó đã có gì? Đối tác giúp đỡ và hợp tác như thế nào? …Nhưng vốn này không lớn, có thể kiểm soát được.

Nhóm nghiên cứu cam kết an toàn hơn nhiều lần (có thể đến 10 lần) tùy thuộc vào chất thải xử lý và yêu cầu của đối tác hợp tác và giúp đỡ, thông qua các hợp đồng thể hiện rõ trách nhiệm bồi hoàn thiệt hại. Nếu thực hiện tại TP. Hồ Chí Minh cần khoảng 1.000m2 đất. Nhóm nghiên cứu hoan nghênh có hội đồng khoa học thẩm định, hội đồng định giá tài sản và các chi phí thực nghiệm. Thời gian chế tạo và xây dựng là 6 - 12 tháng.

Nhóm nghiên cứu trân trọng và mong muốn có sự giúp đỡ và hợp tác của các tổ chức khoa học, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và các cá nhân có tâm huyết với việc bảo vệ môi trường trong và ngoài nước, để chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi, để chung sức hoàn thiện và phát triển công trình vĩ đại này. Quyền lợi gắn liền với trách nhiệm đóng góp của các bên liên quan thông qua thương lượng hoặc hội đồng thẩm định tài sản, tri thức, các chi phí xin giấy phép, mặt bằng, các chi phí giao dịch, chi phí thử nghiệm, chi phí cho các hội đồng thẩm định, định giá và các chi phí thực tế khác…

                   Xin liên hệ:

TS. Lê Văn Tuấn – SĐT: 0932962779 – email: vptongdaidien@gmail.com

Vũ Đức Hòa – SĐT: 0913927677 – vuduchoa.un@gmail.com

Vũ Đức Huyền – SĐT: 0909832839 - huyenvu2508@gmail.com

Địa chỉ VPDD: 32/34 Nguyễn Cửu Vân, P17, Q.Bình Thạnh, HCM - ĐT: 08 38 409689