Chào mừng các bạn đến với Trung tâm UNESCO Khoa học Nhân văn & Cộng đồng (UNESCOM) – Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam - Liên hiệp các Hội UNESCO thế giới
CHỦ NHẬT, 19/11/2017 | 9:59 AM

Chi tiết tin

DÂN TỘC BRÂU


Dân tộc Brâu


Dân tộc Brâu sinh sống tập trung Đăk Mế xã Pờ Y, huyện Ngọc Hồi và một số ở huyện Đắc Tô, tỉnh Kon Tum. Họ có quan hệ gần gũi về tiếng nói với các nhóm Ca Dong, Xơ Đăng. Kinh tế chủ yếu là làm nương rẫy: trồng lúa, ngô, sắn với kỹ thuật lạc hậu, năng suất thấp; sắn bắn, hái lượm còn chiếm vị trí quan trọng, đem lại thức ăn khá thường xuyên cho mọi gia đình, ngoài ra còn có nghề thủ công như rèn, đan lát....


Các nhóm Brâu từ xưa du canh, du cư, về sau sống thành từng làng gọi là Srúc. Nhà ở kiểu nhà sàn, mái dốc, cạnh nhà chính có nhà phụ là nơi ở của người già và cất giữ lương thực, đồ dùng. Người Brâu có tục xăm mình và cà răng, nam đóng khố, nữ quấn váy ngắn và cởi trần, thường đeo nhiều trang sức. Lễ cưới được tổ chức ở nhà gái song do nhà trai chi phí. Sau lễ kết hôn, tục ở rể được kéo dài khoảng 3-4 năm và tiếp đó là thời kỳ luân cư của đôi trai gái. Theo phong tục, người chết được đưa ra khỏi nhà và cho vào quan tài bằng thân cây khoét rỗng để ở nhà tang mới dựng gần nhà ở. Quan tài được chôn nửa chìm, nửa nổi là một đặc trưng trong tục lệ ma chay của người Brâu. Nhà mồ dựng trên mộ để chứa những tài sản được chia cho người chết. Số tài sản này đều đã bị huỷ bỏ một phần dưới hình thức bẻ gẫy, chọc thủng, làm sứt mẻ... Sinh hoạt văn hoá truyền thống là chơi cồng chiêng với các nhạc cụ như Chiêng Tha. Con gái thường chơi đàn Klông Pút làm bằng 5-7 ống lồ ô, cùng với các nhạc cụ là các làn điệu dân ca, các trò chơi như đi cà kheo, đánh phết... rất được ưa chuộng.



Nguồn Internet
CBN sưu tầm & giới thiệu